CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN WEBSITE TRƯỜNG THCS TRẦN ĐẠI NGHĨA - DIÊN HÒA - DIÊN KHÁNH - KHÁNH HÒA.                             CHÀO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2017-2018                      

Việt Nam có diện tích rừng ngập mặn đứng thứ hai thế giới, sau rừng ngập mặn ở cửa sông Amazôn (Nam Mỹ). Rừng ngập mặn không chỉ hấp dẫn các nhà nghiên cứu thực vật, mà còn cả những nhà nghiên cứu động vật, thổ nhưỡng, sinh thái, môi trường, du lịch...

Rừng ngập mặn có vai trò rất to lớn trong việc mở rộng diện tích đất ven biển, bảo vệ đê, hạn chế xói lở, chống gió bão, chống nạn cát bay... Trong trận sóng thần ở Nam Á (tháng 12 năm 2004) cho thấy, những nơi nào có rừng ngập mặn hay rừng ven biển tươi tốt thì những nơi đó tổn thất giảm bớt khá nhiều.

Về mặt kinh tế, rừng ngập mặn là nguồn cung cấp gỗ, chất đốt, các sản phẩm cho ngành công nghiệp, dược liệu. Ngoài ra, đây còn là địa bàn cư trú của nhiều loài côn trùng, chim, bò sát, thú có vú, tôm, cua, cá...

Ở nước ta, rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở Nam Bộ, nhất là ở tỉnh Cà Mau. Miền Bắc do có mùa đông lạnh, đồng thời các vùng cửa sông cũng hẹp hơn, nên diện tích rừng ngập mặn và cây cũng nhỏ hơn. Còn dọc miền Trung rất ít bãi lầy ven biển, các cồn cát chiếm diện tích đáng kể, suốt chiều dài trên 1000km chỉ có những đốm nhỏ rừng ngập mặn.

- Rừng ngập mặn miền Bắc phát triển từ Móng Cái đến Cửa Đáy.

+ Vùng Quảng Ninh ít sông hơn, ngoài khơi có các đảo che chắn gió bão, độ mặn nước biển tương đối cao và ít biến động, do đó có nhiều loài cây chịu mặn, nhưng chỉ cao khoảng 3 – 4m. Ở đây phổ biến là các cây mắm đen, cỏ gà, muối biển, sú, đâng, trang, vẹt, tra, cóc, giá…

Động vật phong phú, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao như hầu, sò, ngao, phi, ngán, don. Quảng Ninh còn có bãi sá sùng (một loài giun) diện tích hàng nghìn hec ta, trữ lượng hàng nghìn tấn, là một thực phẩm xuất khẩu được ưa chuộng. Bào ngư, trai ngọc sống bám trên các bãi đá ngầm. Ở vùng cửa sông có nhiều tôm rảo. Cua bể, ghẹ cũng khá nhiều ở rừng ngập mặn Quảng Ninh.

+ Rừng ngập mặn từ cửa Bạch Đằng (Hải Phòng) đến cửa Thái Bình, nằm trong vùng cửa sông Thái Bình, thủy triều vào sâu, nhưng do sông đã nhiều nước nên cây bần chua trở thành loài chiếm ưu thế, sau đó đến sú, trang, còn các loài ưa nước mặn như mắm đen, đâng, vẹt giảm sút mạnh và khẳng khiu hơn ở Quảng Ninh. Động vật cũng nghèo hơn, đáng kể là don ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, vẹm xanh ở Đồ Sơn, giá biển ở Đình Vũ, An Thụy, ngoài ra còn có tôm rảo và cua bể.

Hình 2.2. Rừng ngập mặn

+ Ở Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình thuộc phạm vi tam giác châu thổ sông Hồng, rừng ngập mặn rất hiếm do: lượng nước sông Hồng rất lớn, nên phạm vi diện tích nước hơi lợ (0,5-5‰) rất rộng, không thích hợp với nhiều loài sinh vật cần độ mặn cao hơn; mặt khác, vùng này còn bị tác động của sóng, gió, bão rất mạnh, cây cũng khó phát triển, nhưng nguyên nhân chính là quai đê lấn biển và phá rừng. Cây tiên phong ở đây là cỏ ngạn che kín cả bãi hoặc xen với cỏ gấu, cỏ gà, sau đến sú, vẹt, ô rô, vào sâu bên trong có bần chua. Hiện nay nhân dân đang trồng thêm trang làm dải rừng chắn sóng bảo vệ đê biển. Tuy nhiên, trên các bãi triều vẫn có một số loài thân mềm, có trữ lượng cao, như vọp với diện tích phân bố đến 2600ha, trữ lượng 12000 tấn và ngao với diện tích 1800ha, trữ lượng 2500 tấn ở Xuân Thủy (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình). Các loài khác như don, sò lông không đáng kể. Nhưng điều lí thú nhất là có cỏ ngạn, nguồn thức ăn cho nhiều loài chim nước mà vùng cửa sông Hồng là nơi tập trung rất đông chim di cư đến trú đông hoặc tạm dừng chân trên đường bay đi và bay về giữa vùng ôn đới bán cầu Bắc và châu Đại Dương ở bán cầu Nam, vì mùa khí hậu ở hai bán cầu trái ngược nhau. Theo kết quả nghiên cứu, có khoảng 150 loài chim di cư. Thời gian chúng xuất hiện là vào hai thời kì, cuối thu (tháng 9 – 11) và đầu xuân (tháng 3 – 4). Trong số loài chim di cư có cả loài quý hiếm, như bồ nông chân hồng, mòng biển đầu đen, cò thìa, cò trắng Trung Quốc, choắt chân màng, choi choi mỏ thìa được ghi vào Sách đỏ của Tổ chức bảo vệ chim quốc tế. Ngày 20 – 9 – 1988, vùng đất ngập mặn Xuân Thủy là vùng đất ngập mặn đầu tiên của Việt Nam được ghi vào Công ước quốc tế bảo vệ đất ngập nước (Ramsar).

- Rừng ngập mặn miền Trung, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, không phát triển thuận lợi do ít bãi lầy ven biển, nhiều cát và đụn cát, đồng thời sóng, gió, bão cũng mạnh, cho nên rừng chỉ tập trung thành dải hẹp phía trong các cửa sông.

+ Phía Bắc đèo Hải Vân, cây tiên phong là mắm, sau đến đâng, trang, rồi sú, vẹt, trong cùng làn bần, ô rô, cói, những loài nước lợ nên có thể vào sâu trong sông đến 30km.

+ Từ đèo Hải Vân trở vào, cây rừng ngập mặn phong phú hơn và cao hơn, khoảng 4 – 5m, do không còn mùa đông lạnh. Đước trở thành cây ưu thế với các loài đước xanh, đước đôi, rồi đến vẹt dù, vẹt tách, trên đất là côi, cóc đỏ, dà vôi, giá, su, chà là. Nơi nước lợ có bần chua và ô rô.

Động vật chiếm ưu thế là các loài thân mềm tại các bãi triều và tôm, cua, ghẹ tại các lạch triều. Ở Bắc Trung Bộ chủ yếu là phi, hầu, ngao, vẹm; Nam Trung Bộ là sò, điệp, móng tay, sút, vẹm xanh, ngao.

- Rừng rậm ngập mặn ở miền Nam có sinh khối ([1]) thực vật và động vật phong phú và đa dạng. Năng suất trung bình của vùng cửa sông tới 20 tấn/ha/năm với mức dao động từ 5 đến 40 tấn, gấp 3 lần đất nông nghiệp, gấp 5,7 lần thềm lục địa và 16 lần biển sâu. Tại vùng của sông Cửu Long, năng suất của rừng ngập mặn khoảng 10 – 12 tấn/ha/năm, ngao sò có thể tới 30 tấn/ha/năm, tôm 500 kg/ha/năm. Nếu tính cả chim, thú thì tổng sinh khối thật là lớn.

Động vật bao gồm nhiều loài như ngao, sò, ốc, hến, tôm, cua, ghẹ, cá… Trong rừng, ta còn gặp đủ các loài sống trên cây, trên đất, ăn lá, mật hoa, quả và hạt như khỉ, sóc, chuột, lợn rừng, ong, ngoài ra các loài ăn sâu bọ, ăn thịt và ăn tạp khác như rái cá, mèo cá, rắn, kì đà, cá sấu, dơi, nhiều nhất là chim, sống tập trung thành những sân chim hàng chục vạn con như cò, ngỗng, bồ nông, sếu, mòng biển…

Rừng ngập mặn ở miền Nam phát triển từ cửa sông Đồng Nai tới Hà Tiên, nhưng tốt nhất là ở vùng 9 cửa sông ([2]) và bán đảo Cà Mau. Ở Cà Mau cây tiên phong là mắm trắng, rồi đến đước, cao tới 30m, đường kính 30-40 cm, rễ to chẵng chịt cắm sâu trong lớp bùn dày hàng chục mét, mọc lẫn với vẹt, dà vôi. Trên đất cao là dà quánh, cóc trắng, cóc đỏ, cui biển, giá, tra, mướp xát, cuối cùng là chà la, rang. Cây nước lợ ngoài cửa sông là bần, khi đi sâu vào trong các kênh rạch là dừa nước rất đặc trưng, mọc xen có mái dầm, ô rô.

Động vật rừng đước Cà Mau vô cùng phong phú. Dưới nước có cá đối, cá bống, cá nhụ, tôm thẻ, tôm sú, tôm càng xanh. Về chim, có sân chim Cái Nước, Đầm Rơi với hàng chục loài và hàng chục vạn con, trong đó có diều cá, cò bợ, cò lửa, cò quăm đầu đen, diệc xumatra, gà đẫy java, hạc cổ trắng… Về bò sát có kì đà hoa, trăm mốc, trăm gấm, rắn sọc dưa, cá sấu nước lợ, rùa hộp lưng đen, rùa ba gờ. Về thú có cầy lỏn, rái cá họng trắng, dơi đen, khỉ nước…

- Mối đe dọa đối với rừng ngập mặn

Trước năm 1945, rừng ngập mặn chiếm khoảng 400.000ha, chủ yếu phân bố ở Nam Bộ (Cà Mau trên 150.000ha). Trải qua hai cuộc chiến tranh, khai thác quá mức, chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động du lịch... làm diện tích rừng ngập mặn giảm sút nhanh. Năm 1982 còn 252.000ha, năm 1999 xuống còn khoảng 200.000ha, 2002 chỉ còn lại trên 155.000 ha. Rừng ngập mặn bị tàn phá, chúng ta không những mất đi nguồn lợi hải sản và các nguồn lợi khác do rừng mang lại mà còn phải hứng chịu nạn xói lở, sạt bờ biển… do không còn tấm lá chắn rừng ngập mặn bảo vệ. Dự án Biển Đông do UNEP (Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc) xây dựng trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu, với sự tham gia của 7 nước: Campuchia, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam. Theo kế hoạch hành động cho hợp phần Rừng ngập mặn trong dự án Biển Đông, mục tiêu đặt ra là năm 2010 diện tích rừng ngập mặn được khôi phục bằng 85% diện tích của năm 1982 (http://vnexpress.net).

- Biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn

+ Ngăn chặn việc khai thác tài nguyên rừng trái phép. Phòng chống cháy rừng. Tăng cường trồng rừng. Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng ngập mặn.

+ Cần phải tính toán kĩ lưỡng khi nuôi tôm trong rừng ngập mặn làm sao không ảnh hưởng đến rừng ngập mặn, đồng thời giúp cải thiện kinh tế cho nhân dân. Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) phối hợp với các tổ chức quốc tế khác đã đưa ra các nguyên tắc nuôi tôm bền vững mà không ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài đến rừng ngập mặn.

  • Lựa chọn vị trí nuôi tôm phù hợp.
  • Thiết kế và xây dựng khu vực nuôi tôm nhằm giảm thiệt hại môi trường.
  • Sử dụng nước sao cho giảm tác động của nước thải nuôi tôm đến nguồn nước.
  • Lựa chọn nguồn giống tôm nuôi địa phương không bị dịch bệnh.
  • Lựa chọn và quản lí thức ăn của tôm sao cho hiệu quả và ít xả thải ra môi trường.
  • Chăm sóc tôm nuôi bằng các phương pháp không gây hại cho các sinh vật hoang dã.
  • Đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng tôm nuôi. Không sử dụng các hóa chất gây hại cho hệ sinh thái và sức khỏe con người.

+ Tránh phát triển du lịch ồ ạt ở vùng rừng ngập mặn, nếu không sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống của nhiều loài sinh vật, gây ô nhiễm môi trường...

BẢNG 2.1: VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY

Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) là rừng ngập mặn ở Việt Nam được quốc tế công nhận là rừng ngập mặn thứ 50 của Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước trên thế giới.

Vườn quốc gia Xuân Thủy cách Hà Nội khoảng 150 km (thuộc địa phận Thái Bình, Nam Định), có diện tích tự nhiên 7.100 ha, là điểm dừng chân của các loài

chim di trú quốc tế. Ước tính có tới 215 loài chim nước hiện đang sinh sống tại đây, trong đó có những loài gần như tuyệt chủng nằm trong sách đỏ quốc tế như: cò thìa, bồ nông, mòng biển, choi choi, mỏ thìa, diệc đầu đỏ… Với những ưu đãi mà thiên nhiên đã ban tặng, vườn quốc gia Xuân Thuỷ là rừng ngập mặn độc đáo, là tài nguyên thiên nhiên quý báu của quốc gia, nơi đây đang chứa đựng những tiềm năng biển vô cùng quý giá về sinh thái biển, du lịch biển. Tuy nhiên vườn đang gặp rất nhiều thách thức do mất cân bằng sinh thái, mà nguyên nhân chủ yếu là sự tác động của con người.

Sự xuất hiện của loại cò thìa ở vườn quốc gia Xuân Thủy là điểm khác biệt so với các khu vực rừng ngập nước trên thế giới. Theo các nhân viên của vườn quốc gia Xuân Thủy, có tới 65 con cò thìa và hơn 20 con choi choi mỏ thìa thường xuyên di trú tại vườn. Thế nhưng đó là con số thống kê cách đây hơn 10 năm, còn hiện nay con số này chỉ đếm trên đầu ngón tay. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc mất cân bằng sinh thái của khu vực vườn quốc gia. Việc thay đổi khí hậu toàn cầu, ô nhiễm môi trường đã hạn chế sự sinh trưởng và thay đổi môi sinh, nguồn thức ăn cho các loài chim, thú. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là những hoạt động của con người đã ảnh hưởng trực tiếp tới các môi trường sống của các loài chim có nguy cơ tuyệt chủng như hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, hoạt động sản xuất - kinh doanh của các hộ nuôi tôm, việc đào đắp các đầm nuôi tôm, sản xuất thức ăn cho tôm, nước thải, đánh bắt hải sản tự do, săn bẫy chim…

                                 

Hình 2.3 Cò mỏ thìa mặt đen, một trong những loài chim quý có

mặt tại vườn quốc gia Xuân Thủy

Bảng 2.1. VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau cách thành phố Cà Mau 120km về phía Tây Nam. Vùng đất Mũi Cà Mau ngoài giá trị văn hóa, lịch sử, vẻ đẹp nên thơ, bên trong nó còn chứa đựng sự đa dạng về cảnh quan, môi trường, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học hiếm có. Sự độc đáo của Mũi Cà Mau là vùng sinh thái bãi bồi, rừng ngập mặn ven biển, vùng sinh sản và trú ngụ của các loài thủy sinh vịnh Thái Lan, điểm dừng chân và trú ngụ của nhiều loài chim di trú quí hiếm trên TG.

Ngày 26/5/2009 tại Hàn Quốc, UNESCO đã công nhận Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là khu dự trữ sinh quyển thế giới thứ tám ở Việt Nam.

Đây là hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường và rất quan trọng trong phòng hộ bờ biển, chắn gió, chắn sóng chống xói lở, cố định đất trong quá trình hình thành đất liền tiến ra Biển Đông. Đây là một trong những địa điểm quan trọng thuộc chương trình quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học của nước ta, nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Tạo nên một vùng sinh thái cửa sông, ven biển duy nhất ở Việt Nam với những nét đặc trưng của hệ động thực vật rừng ngập mặn.


 

Hình 2.4. Trồng rừng ngập mặn

Hệ thực vật ở đây có 22 loài ngập mặn đã được phát hiện, trong đó chiếm ưu thế thuộc về loài đước, mắm trắng, mắm, mắm ổi, trang với quần thể thực vật gồm rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa cây đước, cây vẹt và rừng mấm. Cây mấm là loài tiên phong lấn biển có hệ thống rễ đặc biệt giữ đất bãi bồi, chống xói lở và hình thành các dãy rừng phòng hộ ven biển. Ngoài cây đước, thảm thực vật ở rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau còn có vẹt, sú, bần, cóc, chà là, dương xỉ, nhiều loại dây leo…Theo các nhà khoa học, hệ thống rừng ngập mặn ở đây được cho là đa dạng thứ hai thế giới, chỉ kém rừng ngập mặn Amazôn ở Nam Mĩ.

Hệ động vật, với lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ. Trong đó có một số loài nằm trong Sách Đỏ thế giới như: khỉ đuôi dài, voọc bạc (cà khu), nhọ nồi và nhiều loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam; lớp chim có 74 loài thuộc 23 họ, trong đó có một số loài quí hiếm như cò trắng Trung Quốc, choắt mỏ cong hông nâu, rẽ mỏ rộng, bồ nông chân xám - còn gọi là chàng bè, cò lạo Ấn Độ (giang sen), diệc mốc và quắm đầu đen; quần xã chim trong sinh cảnh rừng ngập mặn đặc trưng với các loài phổ biến như chích bông nâu, vành khuyên họng vàng và rẻ quạt java; bò sát có 17 loài thuộc 9 họ, nhiều loài bò sát ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Có 5 loài lưỡng cư thuộc 3 họ; 14 loài tôm; 175 loài cá thuộc 116 giống và 77 họ; 133 loài động, thực vật phiêu sinh. Động vật ở đây không những phong phú về thành phần loài mà còn có số lượng cá thể từng loài lớn. Đến Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, quí khách có thể dễ dàng bắt gặp nhiều loại đặc sản của Cà Mau như: rắn, rùa, trăn, cua biển, ba khía, ốc len, dọp, sò huyết, nghêu, cá ngát, cá đuối, cá nâu, cá mú, cá thòi lòi...

Đặc biệt, diện tích đất liền của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau không ngừng được mở rộng một cách tự nhiên, hàng năm Mũi Cà Mau lấn ra biển hàng vài chục mét bằng nguồn phù sa do hệ thống sông, kênh, rạch bồi đắp dưới sự giúp sức của bộ rễ phù sinh của rừng mắm, đước ven biển. Với những đặc tính quí giá về sự đa dạng sinh học và điều kiện lập địa hiếm có nên Vườn quốc gia Mũi Cà Mau xứng đáng được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.



([1]) Sinh khối là khối lượng chất hữu cơ của tất cả các sinh vật có trong hệ sinh thái ở thời điểm quan sát và được tính bằng số lượng cá thể, bằng trọng lượng hoặc bằng đơn vị năng lượng.

([2]) Cửa Soi Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiêu, cửa Cung Hầu, cửa Định An và cửa Tranh Đề.

Đăng nhập



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4
mod_vvisit_counterHôm qua265
mod_vvisit_counterTuần này435
mod_vvisit_counterTuần trước1155
mod_vvisit_counterTháng này2308
mod_vvisit_counterTháng trước1505
mod_vvisit_counterTất cả401021

We have: 4 guests online
Your IP: 54.81.131.189
 , 
Hôm nay: 17 Tháng 10 2017
Mersin Temizlik Sirketleri, Firmalari, Hizmetleri