CHÀO MỪNG KỈ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG THCS TRẦN ĐẠI NGHĨA - DIÊN HÒA - DIÊN KHÁNH - KHÁNH HÒA.                 

* Cá biển

Biển nước ta có hơn 2000 loài cá, trong đó có hơn 100 loài có giá trị kinh tế. Các loài có sản lượng cao nhất thuộc nhóm cá nổi là cá nục, cá trích, cá cơm, cá nhám, cá căng, cá hồng, cá hố, cá đỏ môi, cá ngừ, cá thu, cá chuồn, cá chim, cá liệt... Thuộc nhóm cá tầng đáy có cá lượng, cá mối, cá hồng, cá khế, cá trác, cá miễn sành, cá sạo, cá song, cá đối, cá phèn, cá đù, cá úc...


Trữ lượng cá nổi khoảng trên 1,7 triệu tấn và khả năng khai thác hàng năm đạt khoảng 700.000 tấn. Nơi khai thác nhiều nhất là vùng biển phía đông Nam Bộ chiếm 30,3%, sau đó đến miền Trung khoảng 28,9%, vịnh Bắc Bộ 22,5% và sau cùng là vùng biển phía tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan) 18,3%.

Trữ lượng cá tầng đáy khoảng hơn 1 triệu tấn với khả năng khai thác khoảng trên 400000 tấn/năm. Vùng biển phía đông Nam Bộ cũng là nơi nhiều cá tầng đáy nhất, chiếm tới 67,91% trữ lượng và khả năng khai thác, sau đến vịnh Thái Lan chiếm 18,5%, vịnh Bắc Bộ chiếm 7,6% và cuối cùng là miền Trung chiếm 6%.

Như vậy tổng trữ lượng cá biển trên biển Đông Việt Nam là khoảng hơn 2,7 triệu tấn, với khả năng khai thác khoảng 1,1 triệu tấn, trong đó cá nổi chiếm 62,8%, cá tầng đáy 37,2%. Nơi giàu nhất là khu vực đi từ Ninh Thuận đến Kiên Giang, sau đó đến vịnh Bắc Bộ, nghèo nhất từ Đà Nẵng đến Nha Trang.

Nước ta có nhiều bãi cá, trong đó cá tập trung nhiều ở bốn ngư trường trọng điểm, đó là ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng – Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa.

Tất cả các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ có vai trò lớn hơn. Các tỉnh dẫn đầu về sản lượng đánh bắt là Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận và Cà Mau. Riêng 4 tỉnh này chiếm 38% sản lượng thủy sản khai thác của cả nước.

Trong những năm gần đây, số lượng tàu đánh bắt tăng, phương tiện ngày càng hiện đại (xem bảng dưới đây), đường lối chính sách khuyến ngư, thị trường mở rộng... nên sản lượng đánh bắt (chủ yếu là cá biển) tăng.

Sản lượng khai thác thủy sản biển (nghìn tấn)

Năm

Tổng số

Trong đó cá

2005

1791,1

1367,5

2006

1823,7

1396,5

2007

1876,3

1433,0

2008

1946,7

1475,8

2009

2091,7

1574,1

2010

2226,6

1648,2

Nguồn: Niêm giám thống kê tóm tắt, 2010, Tổng cục Thống kê.

Mặc dù phương tiện đánh bắt ngày càng hiện đại nhưng vẫn còn nhiều phương tiện đánh bắt lạc hậu, nên việc đánh bắt ven bờ vẫn diễn ra phổ biến làm cho nguồn lợi hải sản ven bờ bị suy giảm nhanh chóng. Trong khi ngoài khơi, tiềm năng còn nhiều nhưng sản lượng đánh bắt vẫn còn hạn chế.

Việc sử dụng chất độc hoặc nổ mìn không những tận diệt loại hải sản đang khai thác mà còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các loài sinh vật khác.

Đánh bắt xa bờ là cần thiết, góp phần bảo vệ môi trường biển và chủ quyền đất nước.

* Các loài giáp xác

Vùng biển nước ta có khoảng có khoảng 1647 loài giáp xác, trong đó tôm, cua là những loài có giá trị kinh tế cao.

- Tôm

Có trên 100 loài, trong đó tôm he chiếm 72%, tôm trứng chiếm 9,6%, tôm hùm 8,6%, tôm vỗ và tôm rồng cùng chiếm khoảng 4,8%.

Trong số hơn 100 loài tôm, loài có giá trị kinh tế chiếm khoảng 50%, đa số sống ở vùng biển nông tới độ sâu 50m, rất thuận lợi cho việc đánh bắt. Hầu hết tôm biển đều ưa thích nền đáy bùn hoặc bùn cát, vì thế thường tập trung ở các vùng cửa sông. Cũng có loài sống ở ngoài khơi, xa vùng cửa sông, nhưng ở các thời kì tôm con và lớn lên chúng vẫn thường cư trú ở các bãi triều cửa sông ven biển. Nếu chúng ta cứ khai thác ven bờ, sử dụng phương tiện đánh bắt lạc hậu, hình thức đánh bắt hủy diệt sẽ dẫn đến nguồn tôm bị cạn kiệt.

Tôm tập trung nhiều nhất ở vùng biển Nam Bộ. Sản lượng đánh bắt hàng năm ở đây đạt trên 80% tổng sản lượng cả nước (khoảng 50.000 tấn).

Tôm he tập trung nhiều nhất từ Vũng Tàu đến Phú Quốc, thứ hai là vùng ven biển Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, thứ ba là ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận. Các loài tôm he có giá trị kinh tế cao là tôm he bạc, tôm rảo, tôm bộp, tôm sắt, tôm thẻ rằn, tôm sú, tôm vàng, tôm đuôi xanh. Tôm sú có kích thước lớn nhất, dài trung bình 20cm, năng 150g, tối đa có thể đạt đến 30cm, nặng 250g.

Tôm hùm và tôm rồng tập trung ở vùng duyên hải Trung Bộ từ Quảng Bình đến Ninh Thuận. Các loài tôm hùm có giá trị kinh tế cao là tôm hùm sao (loài lớn nhất, tối đa dài đến 36cm, năng 3,4kg, còn trung bình dài khoảng 23cm, năng 2kg), tôm hùm ma, tôm hùm đỏ, tôm hùm sỏi, tôm hùm xanh, tôm hùm lông. Tôm hùm đỏ và tôm hùm sỏi chiếm khoảng 70% tổng sản lượng tôm hùm.

Tôm vỗ tập trung ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), ngoài khơi Quảng Ngãi – Bình Định – Phú Yên, ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận và vùng Côn Đảo.

Khả năng khai thác tôm ở vùng biển nước ta khoảng 55 – 70 ngàn tấn/năm, trong đó ([1]):

Khả năng khai thác tôm ở các vùng ven bờ và xa bờ

Vùng ven bờ

20.000 - 24.000 tấn

Nam Bộ

16.500 - 19.000 tấn

Trung Bộ

2.000 - 3.000 tấn

Vịnh Bắc Bộ

1.500 - 2.000 tấn

Vùng xa bờ

35.000 - 46.000 tấn

- Cua

Có thành phần loài cũng như số lượng rất phong phú trong Biển Đông. Vùng biển nước ta có khoảng 800 loài trong tổng số 2500 loài cua của vùng biển nhiệt đới Ấn Độ Dương – tây Thái Bình Dương.

Có giá trị nhất là nhóm cua bể, ghẹ. Nhìn chung chúng có mặt ở hầu hết các vùng bờ biển, nhưng ít tập trung thành các bãi lớn. Vì vậy việc khai thác thường là thủ công, cho năng suất thấp.

Theo những kết quả nghiên cứu, ở vịnh Bắc Bộ có khoảng 400 loài cua, phân bố tới độ sâu 40 – 50m.

Ngoài ra, nhân dân vùng ven biển còn khai thác cáy rạn, cùm cụp, cáy xanh... làm thực phẩm

* Loài nhuyễn thể

Vùng biển nước ta có rất nhiều loài nhuyễn thể, với hơn 2500 loài.

- Mực

Ở các vùng biển nước ta có 37 loài mực thuộc 4 họ (mực nang, mực ống, mực xim, mực ommastrephidae). Trong số này mực nang và mực ống có số lượng lớn và phân bố rộng. Mực phân bố ở độ sâu khoảng 10 - 70m, có nồng độ muối khoảng 30‰ và nhiệt độ nước biển trên 200C. Mực rất thích ánh sáng, cho nên ngư dân thường hay thả lưới đèn và câu bằng đèn. Mùa lạnh, mực lẩn xuống tầng đáy, sang mùa hạ mực cũng xuống sâu để tránh nắng vào ban ngày, chỉ đến đêm mực mới lên kiếm ăn hàng đàn ở tầng trên. Do đó thời gian câu mực là vào ban đêm và dung đèn sáng để thu hút tập trung mực.

Những nơi mực tập trung thành các ngư trường lớn phân bố ở vùng đảo Cái Chiên – Vĩnh Thực, quần đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) Hòn Mê (Thanh Hóa), Hòn Mắt (Nghệ An), vùng biển Phan Thiết – Hàm Tân (Bình Thuận). Ngoài ra, mực còn có ở vùng biển Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Rang (Ninh Thuận), Côn Đảo, Cà Mau nhưng số lượng không lớn.

Mùa khai thác mực: ở vịnh Bắc Bộ, mực ống khai thác từ tháng 5 đến tháng 10 (đỉnh cao là tháng 8 -10), còn đối với mực nang là tháng 11 - 2. Tại phía nam, mùa mực ống từ tháng 5 đến tháng 12 (đỉnh cao vào tháng 7 - 9), còn mực nang là tháng 1 - 3.

Trữ lượng mực ở vùng biển nước ta khoảng gần 60 nghìn tấn, trong đó khả năng đánh bắt khoảng gần 24 ngàn tấn, chiếm 40% trữ lượng.

Trữ lượng mực ở các vùng biển (đơn vị: tấn) ([2])

Loại mực

Vịnh Bắc Bộ

Biển miền Trung

Đông Nam Bộ

Tây Nam Bộ

Mực ống

658,8

369,78

6284,76

953,4

Mực nang

706,0

1171,0

29329

19068

- Ốc, trai, sò, hàu, vẹm

+ Ốc: có mặt ở hầu hết các vùng ven biển nước nông. Ở vịnh Bắc Bộ, trong nhóm các loài ốc thì có giá trị kinh tế cao là bào ngư. Bào ngư phân bố ở nhiều quần đảo Cô Tô, Ba Mùn, Thượng Mai (Quảng Ninh) Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), ven biển Hà Tĩnh, Quảng Trị, quần đảo Côn Sơn...

Ở ngoài khơi, trên các rạn san hô của Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển phía Nam có nhiều loài ốc kích thước lớn, vỏ có nhiều vân đẹp như: ốc đụn, ốc xà cừ, ốc gáo, ốc lam, vú nàng... không chỉ làm thực phẩm mà còn khai thác vỏ để làm hàng mĩ nghệ.

+ Trai, sò, hàu, vẹm chúng có mặt khắp vùng ven biển. Trong nhóm này, các loài có giá trị kinh tế cao là: trai ngọc, sò huyết, hàu.

Trai ngọc: chủ yếu khai thác để lấy ngọc sản xuất các mặt hàng mĩ nghệ xuất khẩu. Chúng thường phân bố ở các rạn đá, rạn san hô của vùng đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Nam Trung Bộ, Côn Đảo. Hiện nay, ngoài khai thác trai ngọc trong tự nhiên, nghề nuôi thả trai ngọc đang được phát triển ở Cái Bầu, Cô Tô (Quảng Ninh), Côn Đảo, Phú Quốc.

Sò huyết: là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Những vùng sò huyết có hàm lượng và chất lượng cao phân bố ở Quảng Ninh, Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Ô Loan (Khánh Hòa), ven biển Đông Nam Bộ.

Hàu: thường phân bố trong vùng biển có rạn đá quanh các đảo, các vùng cửa sông. Tại những vùng nước lợ có mực triều cao, giàu thức ăn, hàu phát triển nhanh. Nhiều địa phương không chỉ khai thác hàu trong tự nhiên mà còn nuôi, thả để khai thác làm mặt hàng xuất khẩu như ở Hải Phòng, Hà Tiên (Kiên Giang)...

Ngoài ra còn các loài như vẹm xanh, trai tai tượng, hến biển chỉ thấy phân bố ở vùng biển Nam Trung Bộ, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa... Những loài có kích thước lớn, cho sản lượng thịt cao.

Những giống loài khác như: tu hài, don, dắt, móng tay, quéo bùn... cũng được nhân dân ta khai thác làm thực phẩm.






Đăng nhập



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay356
mod_vvisit_counterHôm qua840
mod_vvisit_counterTuần này4717
mod_vvisit_counterTuần trước2360
mod_vvisit_counterTháng này14721
mod_vvisit_counterTháng trước13393
mod_vvisit_counterTất cả131924

We have: 6 guests online
Your IP: 107.22.70.215
 , 
Hôm nay: 25 Tháng 4 2014
Mersin Temizlik Sirketleri, Firmalari, Hizmetleri